NGUYÊN NHÂN GÂY RA VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU? ĐIỀU TRỊ Ở ĐÂU HIỆU QUẢ?

Nhiễm khuẩn tiết niệu là một bệnh lý phổ biến ở cộng đồng, kể cả trẻ em, đặc biệt là ở phụ nữ mang thai tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. Tuy nhiễm trùng đường tiết niệu là bệnh không khó chữa, nhưng nếu không được điều trị kịp thời nguy cơ để lại biến chứng rất cao. Để hiểu hơn về nhiễm khuẩn tiết niệu này bạn hãy cùng đa khoa 23/10 theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi, những yếu tố thuận lợi, các thể nhiễm khuẩn và cách phòng tránh hiệu quả nhất.

ĐỊNH NGHĨA NHIỄM KHUẨN VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU

Nhiễm khuẩn tiết niệu (Urinary Tract Infection) được định nghĩa là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở các phần của đường tiết niệu. Nó được đặc trưng bởi sự hiện diện của vi khuẩn có trong nước tiểu hoặc các triệu chứng biểu hiện sự xâm nhập của vi khuẩn ở 1 hoặc nhiều phần của đường tiết niệu. Dựa vào vị trí giải phẫu bị nhiễm trùng mà người ta có tên gọi riêng cho từng loại nhiễm khuẩn tiết niệu.
Những vị trí bị nhiễm khuẩn này có thể xảy ra đồng thời hoặc riêng và có thể không có triệu chứng.
 
Các nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể chia làm 2 nhóm theo giải phẫu:
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên gồm viêm thận – bể thận.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới gồm có viêm bàng quang, viêm tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo.
 
NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI

Nguyên nhân

Nguyên nhân do vi khuẩn xâm nhập vào đường tiết niệu qua niệu đạo đi ngược lên bàng quang, niệu quản, thận. Các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu bao gồm:
Escherichia coli (E. coli) là nguyên nhân chủ yếu gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu
Các vi khuẩn khác gây nhiễm khuẩn tiết niệu như: Staphylococus, Klebsiella, Proteus,..
 
 

Điều kiện thuận lợi

- Tắc nghẽn đường tiểu do u, sỏi, dị dạng đường niệu hoặc phì đại tuyến tiền liệt.
- Rối loạn chức năng bàng quang do hệ thần kinh.
- Nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng: Hồi lưu bàng quang-niệu quản (trào ngược nước tiểu từ bàng quang vào niệu quản), sau khi soi bàng quang — niệu quản, chụp thận ngược dòng
- Hoạt động tình dục, thai nghén.
- Bệnh nhân có mắc một số bệnh khác đái tháo đường, suy giảm miễn dịch.
- Đặc biệt nhiễm khuẩn tiết niệu hay xảy ra khi đặt sonde bàng quang.
- Sau phẫu thuật hệ tiết niệu.
- Có ổ viêm khu trú: viêm tuyến tiền liệt, viêm trực tràng, viêm ruột thừa, viêm phần phụ…
 
NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU DƯỚI

Viêm bàng quang

Nhiều bệnh nhân có nhiễm khuẩn tiết niệu dưới mà không có triệu chứng lâm sàng. Các triệu chứng biểu hiện rõ với bệnh nhân viêm bàng quang:
Có hội chứng bàng quang rõ đái buốt, đái dắt, đái khó, có thể đái máu vi thể, nước tiểu đục.
Khi bàng quang căng, bệnh nhân có thể có đau nhẹ vùng trên khớp mu.
Đôi khi các triệu chứng biểu hiện không điển hình, chỉ có nóng rát khi đi tiểu hoặc tiểu dắt.
Bệnh nhân thường không có sốt hoặc chỉ sốt nhẹ (nhiệt độ < 38°C).
Trong xét nghiệm nước tiểu sẽ cho kết quả có nhiều bạch cầu và vi khuẩn > 1051 mL nước tiểu.
 
 

Viêm thận – bể thận cấp

1. Lâm sàng

Viêm thận – bể thận cấp thường xuất hiện đột ngột và có những biểu hiện cụ thể sau:
 
Hội chứng nhiễm trùng: Bệnh nhân sốt cao, rét run, nhiệt độ cơ thẻ có thể lên đến 39 – 40°C, kèm theo triệu chứng đau đầu và mệt mỏi, môi khô, lưỡi bẩn, sốt cao có thể làm cho bệnh nhân mất nước. Tình trạng này nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời bệnh nhân có thể bị sốc nhiễm khuẩn.
 
Hội chứng bàng quang cấp: Biểu hiện của hội chứng này là tiểu buốt, tiểu dắt, khó tiểu, tiểu ra máu, nước tiểu đục, tiểu mủ. Đây là những dấu hiệu sớm xuất hiện trước khi có biểu hiện viêm thận – bể thận cấp.
 
Đau: Đau nhiều ở vị trí hông lưng hay mạn sườn, có cảm ứng khi sờ vào, đa thường xảy ra ở một bên, hiếm khi hai bên. Có thể xuất hiện các cơn đau quặn thận.
 

2. Cận lâm sàng

Số lượng bạch cầu tăng rõ rệt, nhất là tăng bạch cầu đa nhân trung tính.
 
Cấy máu: nếu sốt cao > 39°C kèm theo rét run.
 
Cấy vi khuẩn niệu (+) > 100.000 vi khuẩn/mL nước tiểu, có thể âm tính. Trong trường hợp những cơn đau không điển hình cần phải tiến hành cấy vi khuẩn niệu để chẩn đoán phù hợp và có kháng sinh đồ cho điều trị.
 
 

ĐIỀU TRỊ VIÊM ĐƯỜNG TIẾT NIỆU HIỆU QUẢ TẠI ĐA KHOA 23/10

Nguyên tắc điều trị tại đa khoa 23/10

Cần cấy nước tiểu và làm kháng sinh đồ để sử dụng lựa chọn kháng sinh.
Phát hiện những yếu tố thuận lợi gây nhiễm khuẩn tiết niệu để điều chỉnh.
Khi các triệu chứng lâm sàng đã mất không phải luôn đồng nghĩa với đã khỏi bệnh.
Các nhiễm khuẩn tiết niệu dưới không có biến chứng thường đáp ứng với liều điều trị thấp và thời gian ngắn, trong khi viêm thận-bể thận thường đòi hỏi liều điều trị cao hom và thời gian điều trị dài hơn.
Các trường hợp nhiễm khuẩn tái phát cần phát hiện xem nguyên nhân do một chủng hay nhiều chủng vi khuẩn khác nhau.

Các phương pháp tại đa khoa 23/10

Kháng sinh
Lựa chọn kháng sinh ban đầu dựa vào cơ sở phân tích nước tiểu và những hiểu biết về mặt dịch tễ học, vi khuẩn học. Đánh giá tính phù hợp của việc lựa chọn kháng sinh điều trị dựa trên kết quả cấy nước tiểu và kháng sinh đồ. Thông thường điều trị như sau:
- Nhiễm khuẩn tiết niệu dưới không biến chứng: có thể điều trị bằng uống khoảng 5 ngày.
- Nhiễm khuẩn tiết niệu dưới có biến chứng và viêm thận-bể thận cấp không kèm theo sỏi tiết niệu: thường điều trị ngoại trú khoảng 14 ngày 
- Viêm thận bể thận cấp có biến chứng nhiễm khuẩn huyết cần điều trị tại bệnh viện.
- Nhiễm khuẩn tiết niệu do đặt sond bàng quang: cách tốt nhất là rút sond bàng quang và dùng kháng sinh với liệu trình ngắn. Chưa có phác đồ điều trị tối ưu cho những bệnh nhân có nhiễm khuẩn tiết niệu mà không thể rút sond bàng quang.
 
Ngoại khoa (loại bỏ những yếu tố thuận lợi gây nhiễm khuẩn tiết niệu)
Những bệnh nhân có kèm theo sỏi, u, dị dạng đường niệu cần can thiệp ngoại khoa để loại bỏ những yếu tố thuận lợi gây nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát.
 
 
HỆ THỐNG PHÒNG KHÁM
ĐỊA CHỈ :164 đường 23/10, Phương Sơn, Nha Trang
LỊCH LÀM VIỆC: Thứ 2 - Thứ CN: 08:00 - 20:00 (Cả tuần)
ĐIỆN THOẠI: 0258 7309 888